ONLINE SUPPORT
Ms. Thanh Nhan
Dedicate To Health
Tiếng Việt Tiếng Anh
MENU
Viên nén bao phim Sorafenib 200 mg
Read more SORAVAR
Viên nén bao phim Febuxostat 40 mg
Read more ULOXORIC 40mg
Coming Soon..
Read more Levofloxacin
Viên nén bao phim Ursodeoxycholic acid 500mg
Read more URSOFAST
Viên nén bao phim Ursodeoxycholic acid 300 mg
Read more URSOFAST
ERLOVA Viên nén bao phim Erlotinib 100 mg
Read more ERLOVA
OFLOXACIN 400 Viên nén bao phim Ofloxacin 400 mg
Read more OFLOXACIN 400
OFLOXACIN 300 Viên nén bao phim Ofloxacin 300 mg
Read more OFLOXACIN 300
HERAZOLE Viên nang cứng Fluconazole 150 mg
Read more HERAZOLE
ERLOVA Viên nén bao phim Erlotinib 150 mg
Read more ERLOVA

SORAVAR

Rx_Thuốc này chỉ dùng theo đơn thuốc
 
SORAVAR
Viên nén bao phim Sorafenib 200 mg và 400 mg
 
THUỐC ĐỘC
Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng.
Để xa tầm tay trẻ em.
Thông báo ngay cho bác sỹ hoặc dược sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
 
THÀNH PHẦN VÀ HÀM LƯỢNG
Mỗi viên nén bao phim có chứa:
Hoạt chất:
SORAVAR (Viên nén bao phim Sorafenib 200 mg):
Sorafenib tosylate tương đương với Sorafenib .....................................................................200 mg
SORAVAR (Viên nén bao phim Sorafenib 400 mg):
Sorafenib tosylate tương đương với Sorafenib .....................................................................400 mg
Tá dược vừa đủ: Cellulose vi tinh thể 101, croscarmellose natri, natri laurilsulfat, hydroxypropyl methyl cellulose E6, magnesi stearat, opadry orange II (polyvinyl alcohol, macrogol, talc, titan dioxid, FD&C yellow #6, FD&C yellow #5), opadry pink II (polyvinyl alcohol, titan dioxid, talc, macrogol, FD&C red #40).
DẠNG BÀO CHẾ
SORAVAR (Viên nén bao phim Sorafenib 200 mg): Viên màu cam hồng, bóng láng, không bong hay dính chữ, hình tròn, 2 mặt khum, một mặt có chữ “HERA”, một mặt có vạch chia liều, cạnh và thành viên lành lặn. Không bẻ đôi viên thuốc.
SORAVAR (Viên nén bao phim Sorafenib 400 mg): Viên màu cam đậm, bóng láng, không bong hay dính chữ, hình tròn, hai mặt khum, một mặt có chữ “HERA”, một mặt có vạch chia liều, cạnh và thành viên lành lặn. Không bẻ đôi viên thuốc.
CHỈ ĐỊNH
Ung thư biểu mô tế bào gan:
Soravar được chỉ định điều trị ung thư biểu mô tế bào gan.
Ung thư biểu mô tế bào thận:
Soravar được chỉ định điều trị cho bệnh nhân ung thư biểu mô thận tiến triển, những người đã thất bại khi điều trị trước đó bằng interferon-alpha hoặc interleukin-2 hoặc được xem là không phù hợp với những điều trị đó.
Ung thư biểu mô tuyến giáp biệt hóa:
Soravar được chỉ định điều trị cho bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào tuyến giáp biệt hóa thể nhú (progressive), tiến triển tại chỗ hoặc di căn (tế bào nhú/nang/Hurthle), trơ với bức xạ iod.
LIỀU DÙNG VÀ CÁCH DÙNG
Liều dùng:
Liều dùng khuyến cáo của Soravar ở người lớn là 400 mg sorafenib/lần, uống 2 lần/ngày.
Điều trị nên được tiếp tục khi lợi ích lâm sàng thu được hoặc cho đến khi độc tính không chấp nhận được xảy ra.
Điều chỉnh liều:
Khi các phản ứng không mong muốn của thuốc nghi ngờ xảy ra có thể tạm thời ngưng hoặc giảm liều điều trị của sorafenib.
Khi giảm liều là cần thiết trong quá trình điều trị ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) và ung thư biểu mô tế bào thận tiến triển (RCC), liều Soravar nên được giảm xuống 400 mg sorafenib/ngày.
Khi giảm liều là cần thiết trong quá trình điều trị ung thư biểu mô tế bào tuyến giáp biệt hóa (DTC), liều Soravar giảm xuống 600 mg sorafenib/ngày (chia hai lần 400 mg và 200 mg cách nhau 12 giờ).
Ngoài ra, nếu cần thiết giảm liều, nên giảm  xuống 400 mg sorafenib/ngày chia thành 2 lần uống cách nhau 12 giờ, và nếu cần thiết hơn nữa giảm liều xuống 200 mg sorafenib dùng 1 lần/ngày. Sau khi phản ứng không mong muốn cải thiện không qua xét nghiệm huyết học, liều Soravar nên được tăng lên.
Trẻ em:
Tính an toàn và hiệu quả của sorafenib ở trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi vẫn chưa được thiết lập. Không có dữ liệu có sẵn.
Người cao tuổi:
Không cần điều chỉnh liều ở người cao tuổi (bệnh nhân trên 65 tuổi).
Bệnh nhân suy thận:
Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận nhẹ, trung bình hoặc nặng. Không có dữ liệu có sẵn ở bệnh nhân cần thẩm phân máu.
Khuyến cáo theo dõi cân bằng nước và điện giải ở bệnh nhân có nguy cơ rối loạn chức năng thận.
Bệnh nhân suy gan:
Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy gan Child Pugh A hoặc B (nhẹ đến trung bình). Không có dữ liệu ở bệnh nhân suy gan nặng Child Pugh C.
Cách dùng:
Soravar được dùng đường uống, nên uống toàn bộ viên cùng một ly nước. Khuyến cáo nên uống lúc đói hoặc cùng bữa ăn chất béo ít đến trung bình. Nếu bệnh nhân có khuynh hướng có bữa ăn giàu chất béo, uống Soravar ít nhất 1 trước hoặc 2 giờ sau bữa ăn.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Không dùng Soravar khi quá mẫn với sorafenib hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc.
CẢNH BÁO VÀ THẬN TRỌNG KHI DÙNG THUỐC
Độc tính ngoài da:
Phản ứng da tay chân và phát ban là tác dụng không mong muốn thường gặp nhất khi dùng sorafenib. Phát ban và phản ứng da tay chân thường là CTC (tiêu chuẩn độc tính chung) cấp 1 và 2 và thường xuất hiện trong sáu tuần điều trị đầu tiên với sorafenib. Việc kiểm soát độc tính trên da có thể bao gồm trị liệu tại chỗ để làm giảm triệu chứng, gián đoạn điều trị tạm thời và/hoặc điều chỉnh liều sorafenib, hoặc trong trường hợp nghiêm trọng ngừng dùng sorafenib.
Tăng huyết áp:
Tỷ lệ tăng huyết áp động mạch tăng đã quan sát được ở những bệnh nhân được điều trị với sorafenib. Tăng huyết áp thường nhẹ đến trung bình, xuất hiện rất sớm trong quá trình điều trị, và được kiểm soát theo điều trị hạ huyết áp chuẩn. Huyết áp nên được theo dõi thường xuyên và điều trị, nếu cần thiết áp dụng các hướng dẫn chuẩn. Trong trường hợp tăng huyết áp nặng hoặc kéo dài, hoặc cơn tăng huyết áp mặc dù đã điều trị hạ huyết áp, cần xem xét để ngừng thuốc vĩnh viễn khi cần thiết.
Xuất huyết:
Tăng nguy cơ chảy máu có thể xảy ra sau khi dùng sorafenib. Nếu có bất kỳ trường hợp chảy máu nào xảy ra, ngưng thuốc vĩnh viễn cần được xem xét.
Thiếu máu cục bộ/nhồi máu cơ tim:
Trong một nghiên cứu ngẫu nhiên, kiểm soát giả dược, mù đôi, tỷ lệ cấp cứu khẩn cấp thiếu máu cục bộ/nhồi máu cơ tim cao hơn ở nhóm sorafenib (4,9%) so với nhóm dùng giả dược (0,4%). Trong nghiên cứu 3, tần suất cấp cứu khẩn cấp thiếu máu cục bộ/nhồi máu cơ tim là 2,7% ở nhóm bệnh nhân dùng sorafenib so với 1,3% ở nhóm dùng giả dược. Các bệnh nhân bị động mạch vành không ổn định hoặc nhồi máu cơ tim gần đây đã được loại trừ khỏi nghiên cứu này, ngừng tạm thời hoặc ngưng vĩnh viễn sorafenib cần được xem xét ở những bệnh nhân thiếu máu cục bộ/nhồi máu cơ tim.
Quãng QT kéo dài:
Sử dụng sorafenib cho thấy kéo dài quãng QT/QTc, có thể dẫn đến nguy cơ loạn nhịp thất. Cần sử dụng sorafenib thận trọng ở những bệnh nhân có hoặc có thể phát triển kéo dài quãng QTc, chẳng hạn như bệnh nhân có hội chứng kéo dài quãng QT bẩm sinh, bệnh nhân được điều trị với liều tích lũy cao anthracyclin, những bệnh nhân uống thuốc chống loạn nhịp hoặc các loại thuốc khác dẫn đến kéo dài quãng QT, và những người có rối loạn điện giải như hạ kali máu, hạ canxi máu, hoặc hạ magnesi máu. Khi sử dụng sorafenib ở những bệnh nhân này, cần theo dõi định kỳ điện tâm đồ và chất điện giải (magnesi, kali, canxi) trong quá trình điều trị.
Thủng đường tiêu hóa:
Thủng đường tiêu hóa là một tác dụng không mong muốn ít gặp và được báo cáo ít hơn 1% bệnh nhân dùng sorafenib. Trong một số trường hợp, điều này không liên quan đến khối u trong ổ bụng rõ ràng. Nên ngừng điều trị với sorafenib.
Suy gan:
Không có dữ liệu về bệnh nhân suy gan Child Pugh C (nặng). Vì sorafenib được thải trừ chủ yếu qua gan, phơi nhiễm có thể tăng ở bệnh nhân bị suy gan nặng.
Sử dụng đồng thời với Wafarin:
Tần suất chảy máu hoặc độ cao của tỷ số bình thường hóa quốc tế (IRN) được báo cáo ở một số bệnh nhân đang sử dụng warfarin trong khi điều trị sorafenib. Bệnh nhân đang sử dụng warfarin hoặc phenprocoumon nên được theo dõi thường xuyên để có thay đổi về thời gian prothrombin, tỷ số INR hoặc giai đoạn xuất huyết lâm sàng.
Biến chứng về chữa lành vết thương:
Không có nghiên cứu nào được tiến hành chính thức về hiệu quả sorafenib trên việc chữa lành vết thương. Việc gián đoạn điều trị sorafenib được khuyến cáo ở những bệnh nhân tiến hành phẫu thuật lớn. Kinh nghiệm trên lâm sàng giới hạn về thời gian bắt đầu điều trị sau khi phẫu thuật lớn. Vì vậy, quyết định tiếp tục điều trị sorafenib sau khi có can thiệp phẫu thuật cần được dựa trên đánh giá lâm sàng đầy đủ về chữa lành vết thương.
Người cao tuổi:
Các trường hợp suy thận đã được báo cáo. Cần theo dõi chức năng thận.
Tương tác thuốc:
Cần thận trọng khi được khuyến cáo dùng sorafenib với các hoạt chất được chuyển hóa/thải trừ chủ yếu bới con đường UGT1A1 (ví dụ irinotecan) hoặc UGT1A9.
Cần thận trọng khi được khuyến cáo sử dụng sorafenib với docetaxel. Uống đồng thời neomycin hoặc các thuốc kháng sinh khác có thể gây ra rối loạn hệ sinh vật của hệ vi sinh vật đường tiêu hóa có thể dẫn đến làm giảm sinh khả dụng của sorafenib. Nguy cơ giảm nồng độ sorafenib trong huyết tương cần được theo dõi trước khi bắt đầu điều trị với kháng sinh.
Tỷ lệ tử vong cao hơn đã được báo cáo ở những bệnh nhân bị ung thư biểu mô tế bào vảy của phổi được điều trị với sorafenib khi kết hợp với hóa trị liệu bạch kim. Trong hai thử nghiệm nghiên cứu ngẫu nhiên ở bệnh nhân ung thư phổi trong nhóm các bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào vảy được điều trị với sorafenib cùng với paclitaxel/carboplatin, HR cho tổng thể sự sống còn (OS) thu được là 1,81 (95% CI 1,19; 2,74), điều trị cùng với gemcitabin/cisplatin kết quả là 1,22 (95% CI 0,82; 1,80). Không có nguyên nhân riêng lẽ nào gây ra tử vong, nhưng tỷ lệ cao hơn đối với suy hô hấp, xuất huyết, tác dụng phụ nhiễm trùng đã được quan sát thấy ở những bệnh nhân được điều trị với sorafenib kết hợp với hóa trị liệu bạch kim.
Các bệnh cụ thể:
Ung thư biểu mô tế bào tuyến giáp biệt hóa (DTC):
Trước khi bắt đầu điều trị, nên đánh giá một cách cẩn thận tiên lượng bệnh ở mỗi bệnh nhân, xem xét về kích thước tổn thương tối đa, các triệu chứng liên quan đến bệnh và tốc độ tiến triển.
Kiểm soát các tác dụng không mong muốn của thuốc có thể yêu cầu tạm thời gián đoạn hoặc giảm liều sorafenib. Trong nghiên cứu 5, 37% đối tượng gián đoạn liều và 35% giảm liều trong chu kỳ 1 của điều trị sorafenib.
Giảm liều chỉ thành công trong việc giảm các tác dụng không mong muốn. Vì vậy, cần lặp lại các đánh giá về lợi ích và nguy cơ tác dụng kháng ung thư và dung nạp thuốc.
Xuất huyết trong DTC:
Vì nguy cơ chảy máu, xâm nhập vào khí quản, phế quản và thực quản, nên được điều trị tại chỗ trước khi sử dụng sorafenib cho bệnh nhân DTC.
Giảm canxi máu trong DTC:
Khi sử dụng sorafenib ở bệnh nhân DTC, cần theo dõi sát nồng độ canxi trong máu. Trong các thử nghiệm lâm sàng, hạ canxi máu thường xuyên hơn và nặng hơn ở bệnh nhân DTC, đặc biệt có tiền sử suy tuyến cận giáp so với những bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào thận hoặc gan. Giảm canxi huyết độ 3 và 4 xảy ra 6,8% và 3,4% ở các bệnh nhân điều trị với sorafenib mắc bệnh DTC. Hạ canxi huyết nghiêm trọng cần được điều chỉnh để ngăn cản các biến chứng như kéo dài quãng QT hoặc xoắn đỉnh.
Ức chế TSH trong DTC:
Trong nghiên cứu 5, tăng nồng độ TSH trên 0,5 mU/L đã được quan sát thấy ở những bệnh nhân điều trị sorafenib. Khi sử dụng sorafenib ở bệnh nhân DTC, cần theo dõi chặt chẽ nồng độ TSH.
Ung thư biểu mô tế bào thận:
Bệnh nhân có nguy cơ cao, theo nhóm tiên lượng MSKCC  (trung tâm ung thư Memorial Sloan-Kettering), không bao gồm nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3 ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào thận, và nguy cơ - lợi ích ở những bệnh nhân này cần được đánh giá.
SỬ DỤNG THUỐC CHO PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ CHO CON BÚ
Phụ nữ có thai:
Không có dữ liệu về việc sử dụng sorafenib ở phụ nữ mang thai. Các nghiên cứu ở động vật cho thấy độc tính trên sinh sản bao gồm các dị tật. Ở chuột, sorafenib và chất chuyển hóa của nó được chứng minh qua nhau thai và có khả năng gây những ảnh hưởng có hại với thai nhi. Sorafenib không nên sử dụng ở phụ nữ đang mang thai nếu không thực sự cần thiết, chỉ sử dụng sau khi xem xét cẩn thận giữa lợi ích cho người mẹ và nguy cơ cho thai nhi.
Phụ nữ có khả năng mang thai nên sử dụng biện pháp tránh thai hiệu quả trong quá trình điều trị.
Phụ nữ đang cho con bú:
Vẫn chưa biết Sorafenib có được bài tiết qua sữa mẹ ở người hay không. Ở động vật, sorafenib và/hoặc chất chuyển hóa tiết qua sữa mẹ. Vì sorafenib có thể ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển, phụ nữ không nên cho con bú trong thời gian điều trị với sorafenib.
ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC LÊN KHẢ NĂNG LÁI XE, VẬN HÀNH MÁY MÓC
Không có nghiên cứu nào về ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe và vận hành máy móc được thực hiện. Không có bằng chứng cho thấy sorafenib ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Thuốc gây cảm ứng các enzym chuyển hóa:
Sử dụng rifampicin trong 5 ngày trước khi dùng liều đơn sorafenib là giảm AUC của sorafenib trung bình 37%. Các chất gây cảm ứng hoạt tính CYP3A4 và/hoặc glucoronid hóa (ví dụ, Hypericum perforatum cũng được gọi là St. John's wort, phenytoin, carbamazepin, phenobarbital và dexamethason) cũng làm tăng chuyển hóa của sorafenib vì vậy làm giảm nồng độ sorafenib.
Các thuốc ức chế CYP3A4:
Ketoconazol, một chất ức chế mạnh CYP3A4, được dùng mỗi ngày 1 lần trong 7 ngày ở nam giới khỏe mạnh tình nguyện không làm thay đổi giá trị AUC trung bình khi dùng liều đơn 50 mg sorafenib. Những dữ liệu này cho thấy các tương tác dược lâm sàng của sorafenib với các chất ức chế CYP3A4 là không xảy ra.
Các chất nền CYP2B6, CYP2C8 và CYP2C9:
Sorafenib ức chế CYP2B6, CYP2C8 và CYP2C9 trong in vitro với hiệu lực tương tự. Tuy nhiên, trong các nghiên cứu dược động học trên lâm sàng, dùng đồng thời 400 mg sorafenib hai lần mỗi ngày với cyclophosphamid, chất nền CYP2B6, hoặc paclitaxel, chất nền CYP2C8, không có sự ức chế có ý nghĩa lâm sàng. Những dữ liệu này cho thấy sorafenib dùng ở liều khuyến cáo là 400 mg, dùng 2 lần mỗi ngày không ức chế CYP2B6 hoặc CYP2C8 trong in vivo.
Ngoài ra, điều trị đồng thời sorafenib và warfarin, chất nền CYP2C9 không dẫn đến thay đổi PT-INR trung bình so với mẫu giả dược. Vì vậy, nguy cơ về lâm sàng trong in vivo gây ức chế CYP2C9 bởi sorafenib thấp. Tuy nhiên, nên kiểm tra thường xuyên giá trị INR ở những bệnh nhân đang dùng warfarin hoặc phenprocoumon.
Các chất nền CYP3A4, CYP2D6 và CYP2C19:
Dùng đồng thời sorafenib và midazolam, dextromethorphan hoặc omeprazol, chúng là chất nền của cytochrom CYP3A4, CYP2D6 và CYP2C19 tương ứng, chúng không làm thay đổi phơi nhiễm của các tác nhân. Điều này cho thấy sorafenib không làm ức chế hay cảm ứng các isoenzym cytochrom P450. Vì vậy, tương tác dược động học trên lâm sàng của sorafenib và các chất nền của các enzym khó xảy ra.
Chất nền UGT1A1 và UGT1A9:
Trong in vitro, sorafenib ức chế glucuronid hóa qua UGT1A1 và UGT1A9. Sự liên quan trên lâm sàng vẫn chưa rõ ràng.
Các nghiên cứu in vitro của cảm ứng enzym CYP:
Hoạt tính CYP1A2 và CYP3A4 không bị thay đổi sau khi điều trị các tế bào gan người được nuôi cấy với sorafenib, cho thấy sorafenib không làm cảm ứng CYP1A2 và CYP3A4.
Chất nền P-gp:
Trong in vitro, sorafenib cho thấy ức chế vận chuyển protein p-glycoprotein (P-gp). Tăng nồng độ chất nền P-gp trong huyết tương như digoxin không thể loại trừ được khi điều trị đồng thời với sorafenib.
Kết hợp với các thuốc chống ung thư khác:
Trong các nghiên cứu lâm sàng sorafenib được sử dụng cùng nhiều tác nhân chống ung thư khác ở liều lượng thường dùng bao gồm gemcitabin, cisplatin, oxaliplatin, paclitaxel, carboplatin, capecitabin, doxorubicin, irinotecan, docetaxel và cyclophosphamid. Sorafenib không có ảnh hưởng về lâm sàng đến dược động học của gemcitabin, cisplatin, carboplatin, oxaliplatin hoặc cyclophosphamid.
Paclitaxel/carboplatin:
- Sử   dụng    paclitaxel (225 mg/m2)    và   carboplatin
(AUC = 6) với sorafenib (≤ 400 mg hai lần mỗi ngày), được dùng trong 3 ngày cách quãng (2 ngày trước và 1 ngày vào ngày dùng paclitaxel/carboplatin), kết quả cho thấy không có ảnh hưởng có ý nghĩa lên dược động học của paclitaxel.
- Uống kết hợp paclitaxel (225 mg/m2, mỗi 3 tuần dùng 1 lần) và carboplatin (AUC=6) với sorafenib (400 mg hai lần mỗi ngày, không ngắt quãng liều sorafenib), kết quả cho thấy tăng 47% phơi nhiễm với sorafenib, tăng 29% phơi nhiễm với paclitaxel và tăng 50% phơi nhiễm với 6-OH paclitaxel. Dược động học của carboplatin không ảnh hưởng. 
Những kết quả này cho thấy không cần điều chỉnh liều khi sử dụng paclitaxel và carboplatin cùng với sorafenib dùng trong 3 ngày cách quãng (2 ngày trước và 1 ngày vào ngày dùng paclitaxel/carboplatin). Ý nghĩa lâm sàng về tăng phơi nhiễm sorafenib và paclitaxel khi dùng đồng thời với sorafenib mà không dùng cách quãng vẫn chưa được biết.
Capecitabin:
Dùng đồng thời capecitabin (750-1050 mg/m2 dùng hai lần mỗi ngày, dùng ngày 1-14 cách nhau 21 ngày) và sorafenib (200 hoặc 400 mg hai lần mỗi ngày, dùng liên tục không ngắt quãng), kết quả cho thấy không có thay đổi  đáng  kể phơi  nhiễm của  sorafenib,   nhưng  tăng
15-50% phơi nhiễm của capecitabin và tăng phơi nhiễm của 5-FU. Ý nghĩa lâm sàng của tăng phơi nhiễm của capecitabin và 5-FC khi uống đồng thời với sorafenib chưa được biết đến.
Doxorubicin/Irinotecan:
Dùng đồng thời với sorafenib cho kết quả tăng 21% AUC của doxorubicin. Khi sử dụng với irinotecan, hoạt tính của chất chuyển hóa SN-38 tiếp tục được chuyển hóa bởi con đường UGT1A1, tăng 67-120% AUC của SN-38 và tăng 26-42% AUC của irinotecan. Ý nghĩa lâm sàng vẫn chưa được biết.
Docetaxel:
Docetaxel (75 hoặc 100 mg/m2 dùng mỗi 21 ngày 1 lần) sử dụng cùng với sorafenib (200 mg hai lần mỗi ngày hoặc 400 mg hai lần mỗi ngày vào ngày thứ 2 đến 19 của chu kỳ 21 ngày, ngưng 3 ngày dùng liều docetaxel), kết quả thu được 36-80% tăng AUC docetaxel và tăng 16-32% Cmax của docetaxel. Cần thận trọng khi dùng sorafenib với docetaxel.
Kết hợp với các tác nhân khác:
Neomycin
Uống đồng thời neomycin, một tác nhân kháng khuẩn không toàn thân được sử dụng để loại trừ hệ vi sinh đường ruột, cản trở chu trình gan ruột (chuyển hóa và thải trừ), kết quả giảm phơi nhiễm của sorafenib. Ở người tình nguyện được điều trị phác đồ 5 ngày neomycin, phơi nhiễm trung bình của sorafenib giảm 54%. Hiệu quả của các kháng sinh khác vẫn chưa được nghiên cứu, nhưng sẽ phụ thuộc vào khả năng của chúng cản trở các vi sinh vật với hoạt tính glucuronid hóa.
TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN
Tác dụng không mong muốn nghiêm trọng nhất là nhồi máu cơ tim/thiếu máu, thủng đường tiêu hóa, viêm gan do thuốc, xuất huyết và tăng huyết áp/cơn tăng huyết áp.
Các tác dụng không mong muốn phổ biến nhất là tiêu chảy, mệt mỏi, rụng tóc, nhiễm trùng, phản ứng da tay chân (tương ứng với hội chứng vết ban đỏ mất cảm giác ở lòng bàn tay-bàn chân) và phát ban.
Tác dụng không mong muốn được báo cáo trong nhiều thử nghiệm lâm sàng hoặc báo cáo sau lưu hành.
Rất thường gặp (ADR 1/10)
- Nhiễm trùng và ký sinh trùng: nhiễm trùng
- Máu và hệ thống tạo máu: thiếu bạch cầu lympho
- Chuyển hóa và dinh dưỡng: biếng ăn, giảm phosphat huyết
- Mạch máu: xuất huyết* (đường tiêu hóa, đường hô hấp và xuất huyết não), tăng huyết áp
- Tiêu hóa: bệnh tiêu chảy, buồn nôn, nôn, táo bón
- Cơ xương khớp và mô liên kết: đau khớp
- Rối loạn chung: mệt mỏi, đau (bao gồm miệng, bụng, xương, khối u và đầu), sốt
- Toàn thân: giảm cân, tăng amylase, tăng lipase
Thường gặp (1/100 ADR < 1/10)
- Nhiễm trùng và ký sinh trùng: viêm nang lông
- Máu và hệ thống tạo máu: giảm bạch cầu, giảm bạch cầu trung tính, thiếu máu, giảm tiểu cầu
- Nội tiết: suy giáp
- Chuyển hóa và dinh dưỡng: suy giáp, tăng calci huyết, hạ kali huyết, hạ natri huyết
- Tâm thần: trầm cảm
- Thần kinh: cảm giác ngoại biên, thay đổi vị giác
- Tai và ốc tai: ù tai
- Tim mạch: suy tim sung huyết*, thiếu máu cục bộ và nhồi máu cơ tim*
- Mạch máu: đỏ bừng mặt
- Hô hấp: xổ mũi, khó nói
- Tiêu hóa: viêm miệng (bao gồm khô miệng và đau lưỡi), chứng khó tiêu, khó nuốt, trào ngược dạ dày thực quản
- Da và tổ chức dưới da: da khô, phát ban, rụng tóc, phản ứng da tay chân**, chứng đỏ da, ngứa
- Cơ xương khớp và mô liên kết: nhức gân, co thắt cơ bắp
- Thận và tiết niệu: suy thận, protein niệu
- Hệ thống sinh sản và các bệnh về ngực: rối loạn chức năng cương dương
- Rối loạn chung: suy nhược, giống như cúm, viêm niêm mạc
- Toàn thân: tăng thoáng qua transaminase
Ít gặp (1/1000 ADR < 1/100)
- Rối loạn hệ thống miễn dịch: phản ứng quá mẫn (bao gồm những phản ứng ở da và nổi mề đay), phản ứng phản vệ
- Nội tiết: cường giáp
- Chuyển hóa và dinh dưỡng: mất nước
- Thần kinh: bệnh lý chất trắng não sau có thể hồi phục (hội chứng RPLS)*
- Mạch máu: cơn tăng huyết áp
- Hô hấp: bệnh phổi mô kẽ (viêm phổi, viêm phổi do bức xạ, suy hô hấp cấp tính,…)
- Tiêu hóa: viêm tụy, viêm dạ dày, thủng đường tiêu hóa*
- Gan mật: tăng bilirubin và vàng da, viêm túi mật, viêm đường mật
- Da và tổ chức dưới da: u gai sừng, ung thư tế bào vảy da, viêm da tróc vảy, bong da, tăng sừng
- Hệ thống sinh sản và các bệnh về ngực: nữ hóa tuyến vú
- Toàn thân: tăng thoáng qua phosphatase kiềm trong máu, IRN bất thường, nồng độ prothrombin bất thường.
Hiếm gặp (1/10000 ADR < 1/1000)
- Rối loạn hệ thống miễn dịch: phù mạch
- Tim mạch: quãng QT kéo dài
- Gan mật: viêm gan do thuốc*
- Da và tổ chức dưới da: eczema, hồng ban đa dạng
- Cơ xương khớp và mô liên kết: tiêu cơ vân
- Thận và tiết niệu: hội chứng thận hư all
Không rõ tần suất
- Tâm thần: bệnh não
- Da và tổ chức dưới da: viêm da bức xạ hồi phục, hội chứng stevens-Johnson, viêm mạch máu quá mẫn, hoại tử thượng bì nhiễm độc*
*: Các tác dụng không mong muốn có thể đe dọa tính mạng hoặc gây tử vong. Những trường hợp không phổ biến hoặc tần suất ít hơn không phổ biến.
Hướng dẫn xử trí tác dụng không mong muốn (ADR):
Cần ngưng dùng thuốc ở bệnh nhân gặp phải tác dụng không mong muốn là xuất huyết và thủng đường tiêu hóa.
Xem xét ngừng tạm thời hoặc ngưng dùng sorafenib hẳn ở bệnh nhân bị thiếu máu cục bộ/nhồi máu cơ tim.
Tăng huyết áp thường xảy ra nhẹ đến trung bình, xuất hiện rất sớm trong quá trình điều trị, cần theo dõi, kiểm soát chặt chẽ, điều trị theo hướng dẫn chuẩn nếu cần thiết. Trong trường hợp huyết áp tăng nặng hoặc kéo dài, cần xem xét ngừng dùng sorafenib.
Phản ứng da tay chân và phát ban là tác dụng không mong muốn thường gặp nhất khi dùng sorafenib, điều trị tại chổ để làm giảm triệu chứng. Xem xét ngưng dùng thuốc tạm thời, điều chỉnh liều hoặc ngừng dùng hẳn trong trường hợp nghiêm trọng.
QUÁ LIỀU VÀ CÁCH XỬ TRÍ
Không có điều trị đặc hiệu khi quá liều sorafenib. Liều cao nhất của sorafenib được nghiên cứu lâm sàng là 800 mg ngày 2 lần. Tác dụng không mong muốn quan sát được tại liều này chủ yếu là tiêu chảy và vấn đề về da. Trong trường hợp có nghi ngờ dùng sorafenib quá liều nên giữ lại theo dõi và chăm sóc hỗ trợ khi cần thiết.
DƯỢC LỰC HỌC
Nhóm dược lý: Tác nhân chống ung thư, ức chế enzym protein kinase.
Mã ATC: L01X E05
Sorafenib là một chất ức chế multikinase, nó được chứng minh có hai đặc tính chống tăng sinh và chống tạo mạch trong in vitroin vivo.
Cơ chế tác dụng và tác dụng dược lực học:
Sorafenib là một chất ức chế multikinase, làm giảm sự tăng sinh tế bào khối u trong in vitro. Sorafenib ức chế sự phát triển của khối u xenograft ở chuột athymic bằng cách giảm sự hình thành mạch trong khối u. Sorafenib ức chế hoạt tính của các đích trong các tế bào   khối   u (CRAF,  BRAF,  V600E BRAF,  c-KIT và
FLT-3) và các mạch máu của khối u (craf, VEGFR-2, VEGFR-3, và PDGFR-ß). RAF kinases là serin/ threonin kinase; c-KIT, FLT-3, VEGFR-2, VEGFR-3, và PDGFR-ß là thụ thể tyrosin kinases.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Hấp thu và phân bố:
Sau khi uống viên nén sorafenib, sinh khả dụng tương đối trung bình là 38 – 49% khi so sánh với dạng dung dịch uống. Sinh khả dụng tuyệt đối vẫn chưa được biết đến. Sau khi dùng đường uống, nồng độ sorafenib đạt tối đa trong huyết tương trong khoảng 3 giờ. Khi uống cùng bữa ăn giàu chất béo, độ hấp thu giảm khoảng 30% so với khi uống lúc đói. Tỷ lệ tăng nồng độ đỉnh (Cmax) và diện tích dưới đường cong (AUC) ít hơn trung bình khi dùng liều vượt quá 400 mg/lần, mỗi ngày uống 2 lần. Trong in vitro, liên kết sorafenib với protein huyết tương là 99,5%.
Dùng đa liều sorafenib trong 7 ngày dẫn đến tích lũy 2,5 đến 7 lần so với sử dụng liều duy nhất. Nồng độ sorafenib trong huyết tương ở trạng thái ổn định đạt được trong vòng 7 ngày, với tỷ lệ đỉnh so với nồng độ trung bình bé hơn 2.
Nồng độ sorafenib ở trạng thái ổn định với liều dùng 400 mg/lần, ngày 2 lần được đánh giá ở bệnh nhân DTC, RCC và HCC. Nồng độ trung bình cao nhất được quan sát ở bệnh nhân DTC (gấp khoảng hai lần khi quan sát ở bệnh nhân RCC và HCC), mặc dù sự biến động cao đối với tất cả các loại ung thư. Nguyên nhân nồng độ tăng ở bệnh nhân DTC chưa được biết đến.
Chuyển hóa và thải trừ:
Thời gian bán thải của sorafenib khoảng 25-48 giờ. Sorafenib được chuyển hóa chủ yếu ở gan và trải qua quá trình oxi hóa, qua trung gian CYP 3A4, cũng như glucoronic hóa qua trung gian UGT1A9. Các liên hợp sorafenib có thể bị phân cắt trong đường tiêu hóa do hoạt động của vi khuẩn glucuronidase, cho phép tái hấp thu các hoạt chất không liên hợp. Uống cùng neomycin cho thấy giảm sinh khả dụng trung bình của sorafenib 54%.
Số lượng sorafenib khoảng 70-85% các chất phân tích trong huyết tương ở trạng thái ổn định. Tám chất chuyển hóa của sorafenib được xác định, trong đó có 5 chất xác định được trong huyết tương, chất chuyển hóa chính của sorafenib trong huyết tương là pyridin N-oxid, cho thấy hiệu lực in vitro tương tự như sorafenib. Chất chuyển hóa này chiếm khoảng 9-16% các chất phân tích ở trạng thái ổn định.
Sau khi uống liều 100 mg dung dịch uống sorafenib, 96% liều được thải trừ trong vòng 14 ngày, 77% liều được thải trừ qua phân và 19% được thải trừ qua nước tiểu dạng chuyển hóa glucuronic. Sorafenib dạng không biến đổi, khoảng 51% liều, được tìm thấy trong phân nhưng không có trong nước tiểu, cho thấy thải trừ qua mật dạng hoạt chất không thay đổi giúp thải trừ sorafenib.
Dược động học ở các nhóm người:
Các phân tích nhân khẩu học cho thấy rằng không có mối quan hệ giữa dược động học và độ tuổi (lên đến 65 tuổi), giới tính, trọng lượng cơ thể.
Trẻ em:
Không có nghiên cứu nào được thực hiện để khảo sát dược động học của sorafenib ở trẻ em.
Chủng tộc:
Không có nghiên cứu lâm sàng liên quan đến sự khác nhau trong dược động học giữa các đối tượng người da trắng và Châu Á.
Suy thận:
Trong 4 thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1, phơi nhiễm với sorafenib ở trạng thái ổn định tương tự ở các bệnh nhân có mức suy thận nhẹ hoặc trung bình so với bệnh nhân có chức năng thận bình thường. Trong một nghiên cứu lâm sàng dược lý (dùng liều đơn 400 mg), không có mối liên quan được quan sát giữa phơi nhiễm sorafenib và chức năng thận ở đối tượng có chức năng thận bình thường, suy thận nhẹ, trung bình hoặc nặng. Không có dữ liệu ở bệnh nhân thẩm tích máu.
Suy gan:
Ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) với suy gan Child-Pugh A hoặc B (nhẹ đến trung bình). Giá trị phơi nhiễm đã được so sánh và trong phạm vi quan sát ở những bệnh nhân không bị suy gan. Dược động học của sorafenib ở bệnh nhân suy gan Child-Pugh A and B và không bị ung thư biểu mô tế bào gan tương tự dược động học ở người tình nguyện khỏe mạnh. Không có dữ liệu cho bệnh nhân suy gan Child-Pugh C (nặng). Sorafenib được đào thải chủ yếu qua gan, độ phơi nhiễm có thể tăng ở nhóm bệnh nhân này.
QUY CÁCH ĐÓNG GÓI
SORAVAR (Viên nén bao phim Sorafenib 200 mg): Hộp chứa 06 vỉ x 10 viên.
SORAVAR (Viên nén bao phim Sorafenib 400 mg): Hộp chứa 06 vỉ x 10 viên.
BẢO QUẢN
Bảo quản trong bao bì kín, nơi khô ráo, nhiệt độ dưới 30oC.
TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG
TCCS.
HẠN DÙNG
24 tháng kể từ ngày sản xuất.
Số lô sản xuất (Batch No.), ngày sản xuất (Mfg. date), hạn dùng (Exp. date): xin xem trên nhãn bao bì.
 
 
Sản xuất tại:
  Công ty TNHH Sinh dược phẩm HERA
 Lô A17 Khu công nghiệp Tứ Hạ,   phường Tứ Hạ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, Việt Nam.